Trường hợp nào được miễn trách nhiệm hình sự ?
Theo quy định của Bộ luật Hình sự, miễn trách nhiệm hình sự được hiểu là trường hợp một người đã có hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời hành vi đó cũng đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tức là hành vi đó về mặt pháp lý được coi là tội phạm. Căn cứ vào quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, các quy định của pháp luật hiện hành, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi không còn đáng kể thì người thực hiện hành vi sẽ không phải chịu hậu quả pháp lý về hình sự.
Miễn trách nhiệm hình sự dựa trên những căn cứ nào?
Theo luật gia Nguyễn Xuân Khánh, Hội Luật gia TP Hà Nội, quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự bao gồm:
Thứ nhất, người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Theo đó, nếu trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử có sửa đổi, bãi bỏ quy định pháp luật liên quan, chẳng hạn như hành vi từng bị coi là tội thì nay không còn là tội, hoặc mức độ xử lý đã được thay đổi theo hướng không coi đó là hành vi nguy hiểm), thì người thực hiện hành vi đó được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là căn cứ bắt buộc phải áp dụng.
Khi có quyết định đại xá những người thuộc diện được đại xá sẽ được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt theo quyết định đó. Đây cũng là căn cứ bắt buộc.
Thứ hai, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây: Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Chẳng hạn như, người phạm tội đã chủ động bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, người phạm tội đã có chuyển biến tích cực thì cũng có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự.

Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa. Nếu người phạm tội bị bệnh hiểm nghèo, dễ dẫn đến tử vong, đồng thời các bệnh này phải nằm trong danh mục do Bộ Y Tế quy định và do Hội đồng giám định y khoa xác định (chẳng hạn như người phạm tội mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối) và tình trạng sức khỏe khiến họ không thể tiếp tục có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, cơ quan tố tụng có thể xem xét miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trường hợp này đòi hỏi giám định y khoa và đánh giá cụ thể.
Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận, chẳng hạn như người chiếm đoạt tài sản tự thú, hoàn trả toàn bộ tài sản và phối hợp truy bắt đồng phạm; hoặc người phạm tội cứu được người trong thiên tai thì cũng có thể được xem xét cho miễn trách nhiệm hình sự.
Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Các cơ quan có thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự
Luật gia Nguyễn Xuân Khánh phân tích về thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự. Cơ quan có thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng. Thẩm quyền này được quy định như sau:
Cơ quan điều tra: Căn cứ theo quy định tại Điều 230 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khi đang trong quá trình điều tra, nếu cơ quan điều tra xác định bị can rơi vào một trong các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự, thì Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra và xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị can.
Viện kiểm sát: Căn cứ theo quy định tại Điều 248 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khi vụ án đã chuyển sang giai đoạn truy tố, trường hợp Viện kiểm sát xét thấy bị can có một trong các căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự, thì Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định không truy tố, ra quyết định đình chỉ vụ án và xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị can.
Tòa án: Khi vụ án được đưa ra xét xử, nếu xét thấy bị cáo thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tòa án có quyền ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự. Việc này có thể được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc ngay tại phiên tòa sơ thẩm, khi các chứng cứ và tình tiết của vụ án cho thấy người phạm tội đã khắc phục toàn bộ hậu quả, có thái độ ăn năn hối cải, hoặc có sự thay đổi về chính sách, pháp luật khiến hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội. Quyết định miễn trách nhiệm hình sự của Tòa án phải nêu rõ căn cứ pháp lý, lý do áp dụng và hậu quả pháp lý của việc miễn, đồng thời được ghi nhận trong bản án hoặc quyết định.