Báo Đại Đoàn Kết Góc nhìn Đại Đoàn Kết

Quyền bình đẳng

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Quyền bình đẳng

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Thành tựu vĩ đại bậc nhất của nhân loại trong lĩnh vực chính trị, chắc hẳn là việc bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong đó, bầu cử là một trong những cách thức rất quan trọng để xác lập quyền lực ấy.

Năm nay, nhân dân và đồng bào cử tri cả nước đang tiếp tục có cơ hội phát huy quyền làm chủ của mình bằng việc tham gia thực hiện quyền ứng cử, bầu cử đại biểu nhân dân cho nhiệm kỳ mới. Quyền làm chủ của dân được thực thi phải gắn liền với việc bảo đảm quyền bình đẳng trong bầu cử.

Có thể nói rằng, trong các nguyên tắc cơ bản về quyền con người nói chung, về quyền bầu cử nói riêng, thì nguyên tắc bình đẳng là quan trọng nhất. Phải trải qua biết bao cam go theo chiều dài lịch sử chính trị của thế giới, quyền bình đẳng trong bầu cử mới được bảo đảm. Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ đưa ra tuyên bố bất hủ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được”.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng khẳng định một điều không ai có thể chối cãi, rằng: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Thế nhưng, chế độ bầu cử ở một số nước suốt một thời gian dài cả hàng trăm năm sau những tuyên bố bất hủ ấy, về quyền bình đẳng vẫn duy trì sự phân biệt giới tính để tước đoạt quyền bầu cử, ứng cử của phụ nữ.

Tại nước Mỹ, cho đến năm 1920, Hiến pháp mới quy định cho phụ nữ có quyền bầu cử; quyền bầu cử của phụ nữ nước Anh là năm 1928; ở Italia năm 1945 phụ nữ cũng mới được tham gia bầu cử. Nước Pháp từng xem là đi “khai hoá văn minh” cho các nước khác, nhưng trước năm 1946 phụ nữ Pháp cũng không được hưởng quyền bầu cử. Thậm chí, phụ nữ Thụy Sỹ phải mãi đến tận năm 1971 mới được hưởng quyền bầu cử.

Trong khi đó, nhìn lại lịch sử bẩu cử ở nước ta, ngay tại sắc lệnh về Tổng tuyển cử lần đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã sớm quy định nguyên tắc bầu cử bình đẳng, nhất là bình đẳng nam nữ về quyền bầu cử, ứng cử ngay trong những ngày đầu tiên của nền Cộng hòa dân chủ nhân dân. Điều đó thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong bầu cử ở thời đại Hồ Chí Minh.

Nhất là khi nước ta vừa trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến với lễ giáo “tam tòng”, người phụ nữ bị đặt địa vị thấp kém cả trong xã hội cũng như trong gia đình, lập tức nay dưới nền dân chủ cộng hòa đã được hưởng ngay quyền bầu cử, ứng cử như nam giới. Nguyên tắc bầu cử bình đẳng không phân biệt nam nữ đã nâng địa vị người phụ nữ Việt Nam lên ngang hàng với nam giới và sánh vai cùng phụ nữ các nước có nền pháp lý dân chủ, văn minh, tiến bộ đương thời.

Hiến pháp nước ta ngay từ khi thành lập nền dân chủ cộng hòa đã long trọng ghi nhận những nguyên tắc chung rất tiến bộ về bầu cử là bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Chỉ riêng việc bảo đảm tính chất phổ thông trong bầu cử cũng đã tác động tích cực đến việc bảo đảm thực thi nguyên tắc bình đẳng.

Bầu cử có sự tham gia của mọi công dân đạt đến độ tuổi trưởng thành theo luật định, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, tài sản đều được đi bầu và có thể được bầu. Cử tri tham gia bầu cử có quyền và nghĩa vụ như nhau. Giá trị của mọi lá phiếu cử tri trong bầu cử đều như nhau.

Bên cạnh đó, các ứng cử viên có khả năng và điều kiện ứng cử là như nhau. Việc tham gia ứng cử làm người đại biểu nhân dân của mọi công dân đủ điều kiện đều phải được thượng tôn, bình đẳng theo hiến định. Quá trình hiệp thương hình thành danh sách ứng cử viên bầu cử, không được phân biệt giữa người được giới thiệu ứng cử với người tự ứng cử.

Nghĩa là quyền tự do chính trị của công dân được đảm bảo không bị áp đặt. Việc vận động bầu cử cũng phải bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa những người ứng cử. Không có sự đặc quyền khác biệt nào giữa các ứng cử viên. Kết quả bầu cử chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà cử tri bỏ phiếu cho các ứng cử viên.

Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị về công tác lãnh đạo bầu cử, khẳng định việc bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật. Nhưng, cũng đồng thời không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực; có tư tưởng cục bộ, bảo thủ; đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm; đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết nghiêm trọng.

Lẽ dĩ nhiên, việc thực hiện quyền phải gắn với trách nhiệm công dân trước cộng đồng xã hội. Một người khi thực hiện quyền ứng cử, phải đồng thời ý thức một cách hết sức nghiêm túc về trách nhiệm của cá nhân mình bằng việc xem xét thật thấu đáo khả năng, điều kiện, sự chính đáng của bản thân khi ứng cử làm đại biểu của dân. Sự nghiêm túc ấy không chỉ trân trọng quyền công dân của chính bản thân mình mà còn tôn trọng quyền bầu cử của các công dân khác, cũng như tôn trọng sự kỳ vọng, tin tưởng của cộng đồng về công việc hệ trọng của đất nước.

Nếu xảy ra tình trạng ứng cử theo kiểu “thử cho biết”, là tắc trách với xã hội, vô tình gây ảnh hưởng đến tính chính đáng của những người có năng lực, điều kiện thực sự phù hợp ngồi vào vị trí làm đại biểu nhân dân. Ý thức trách nhiệm công dân chưa thấu đáo nếu xảy ra trong quá trình ứng cử, ít nhiều làm cản trở quá trình hình thành cơ quan quyền lực nhà nước một cách xác đáng.

Rõ ràng, những quy định của pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn tổ chức thành công các cuộc bầu cử đã qua, cùng với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, và sự quan tâm, kỳ vọng chính đáng của đồng bào cư tri trước hiện tình đất nước đang tạo nên bức tranh sinh hoạt chính trị sâu rộng trong xã hội ngày càng tiến bộ. Đó là cơ sở bảo đảm việc thực thi quá trình hình thành cơ quan quyền lực nhà nước các cấp thực sự “của dân, do dân, vì dân” cho một nhiệm kỳ mới 2016-2020.

Chu Ninh