Báo Đại Đoàn Kết Văn hóa

Siết quản lý phim trên không gian mạng

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Siết quản lý phim trên không gian mạng

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Sự phát triển mạnh của thị trường phim trực tuyến đang mở ra thêm không gian tiếp cận cho công chúng, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện cơ chế quản lý. Khi phim ngày càng được phổ biến rộng rãi trên các nền tảng số, bài toán kiểm soát nội dung, phân loại độ tuổi, thống kê thị trường và bảo đảm môi trường tiếp nhận lành mạnh càng trở nên cấp bách.

Phim “Sống chung với mẹ chồng” từng bị nhiều kênh trực tuyến sao chép.
Phim “Sống chung với mẹ chồng” từng bị nhiều kênh trực tuyến sao chép.

Sau khi Luật Điện ảnh (sửa đổi) được triển khai, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực điện ảnh đã có bước chuyển rõ rệt, nhất là ở việc mở rộng phạm vi quản lý sang không gian mạng. Đây được xem là bước đi cần thiết trong bối cảnh thói quen thưởng thức phim của công chúng đang thay đổi nhanh chóng, từ rạp chiếu truyền thống sang các nền tảng trực tuyến, dịch vụ xem phim theo yêu cầu và mạng xã hội có phát tán nội dung nghe nhìn. Nhiều cơ chế mới đã được thiết lập để quản lý việc phổ biến phim trên môi trường số, trong đó có yêu cầu về phân loại phim, hiển thị mức phân loại và cảnh báo nội dung theo quy định.

Tuy nhiên, từ thực tế, quản lý phim trên không gian mạng vẫn là lĩnh vực còn nhiều khoảng trống. Hoạt động kiểm duyệt, hậu kiểm và giám sát nội dung phim nói chung, phim điện ảnh nói riêng trên môi trường số vẫn bộc lộ nhiều lỗ hổng. Trong khi nguồn phim trên mạng tăng nhanh từng ngày, khả năng kiểm soát toàn bộ nội dung phát hành lại là bài toán không đơn giản. Không ít phim được phổ biến với tốc độ rất nhanh, lan tỏa rộng trên nhiều nền tảng, trong khi công cụ thống kê, rà quét và đối chiếu dữ liệu chưa theo kịp diễn biến của thị trường.

Sự bùng nổ của thị trường phim chiếu mạng tại Việt Nam là thực tế không thể phủ nhận. Tâm lý xem phim miễn phí, dễ tìm, dễ truy cập, thậm chí cứ thấy phim thì xem đã khiến lượng người tiếp cận nội dung nghe nhìn trên mạng tăng mạnh. Các nền tảng như Netflix, iQIYI, WeTV, VieON, FPT Play, Galaxy Play… đang cạnh tranh quyết liệt để thu hút khán giả bằng kho nội dung lớn, đa dạng thể loại, phong phú xuất xứ.

Trước thực tế đó đã đặt ra yêu cầu quản lý chặt chẽ hơn. Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là thiếu nguồn dữ liệu chính xác, đầy đủ và đáng tin cậy để phục vụ công tác quản lý. Việc thống kê số lượng phim phổ biến trên không gian mạng, theo dõi mức độ tiếp cận, đánh giá tác động thị trường hay kiểm tra việc chấp hành quy định phân loại vẫn còn gặp khó.

Theo các chuyên gia, không gian mạng vốn vận hành theo tốc độ rất khác so với môi trường phổ biến phim truyền thống. Nội dung có thể được cập nhật liên tục, chia sẻ chéo giữa nhiều nền tảng, thậm chí bị cắt ghép, đăng tải lại dưới nhiều hình thức khác nhau. Điều đó đòi hỏi cơ quan quản lý không chỉ dựa vào cách làm cũ, mà phải có thêm công cụ công nghệ, cơ chế phối hợp liên ngành và trách nhiệm rõ hơn từ phía doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Việc kiểm tra nội dung phim, hiển thị kết quả phân loại và cảnh báo tới người xem cần được thực hiện đồng bộ, minh bạch và dễ nhận diện hơn trên các nền tảng số.

Ngô Hương Giang - nhà nghiên cứu văn hóa, phê bình điện ảnh cho rằng, hoạt động quản lý cũng như kiểm duyệt phim nói chung và phim điện ảnh nói riêng trên không gian mạng của chúng ta đang có rất nhiều lỗ hổng, nhiều điều đáng phải lưu tâm cảnh báo. Với lượng nội dung khổng lồ đến từ nhiều quốc gia, đa nền tảng, phần lớn là nằm bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, chúng ta đang thiếu những công cụ kiểm soát trực tiếp.

Liên quan đến vấn đề này, mới đây, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Tạ Quang Đông đã có buổi làm việc với các đơn vị liên quan về công tác kiểm tra nội dung phim, phân loại phim, hiển thị kết quả phân loại phim phổ biến trên không gian mạng.

Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Tạ Quang Đông đưa ra phương hướng xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu cơ bản về lĩnh vực phim. Trong đó có các thông tin cụ thể về lượng người xem, doanh thu phim trên mạng, cũng như các chỉ số phát hành theo tháng hoặc theo quý. Đây sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng, giúp cơ quan quản lý có căn cứ chính xác để quản lý và hoạch định chính sách, đồng thời khắc phục tình trạng phụ thuộc vào các nguồn thống kê chưa được kiểm chứng trên thị trường.

“Việc đẩy mạnh số hóa không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần giảm tải các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, hướng tới một môi trường phát triển lành mạnh, bền vững cho ngành công nghiệp điện ảnh trong kỷ nguyên số”, ông Đông nhấn mạnh.

Không gian mạng vốn vận hành theo tốc độ rất khác so với môi trường phổ biến phim truyền thống. Nội dung có thể được cập nhật liên tục, chia sẻ chéo giữa nhiều nền tảng, thậm chí bị cắt ghép, đăng tải lại dưới nhiều hình thức khác nhau. Điều đó đòi hỏi cơ quan quản lý không chỉ dựa vào cách làm cũ, mà phải có thêm công cụ công nghệ, cơ chế phối hợp liên ngành và trách nhiệm rõ hơn từ phía doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.

Cùng với đó, việc siết quản lý phim trên không gian mạng không phải để làm khó thị trường, mà để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, công bằng và đúng pháp luật. Một thị trường phim số muốn phát triển bền vững thì không thể thiếu hàng rào kỹ thuật, cơ sở dữ liệu tin cậy và chế tài đủ sức răn đe.

Thành Nam