Báo Đại Đoàn Kết Văn hóa

Những người “giữ lửa” làng nghề truyền thống

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Những người “giữ lửa” làng nghề truyền thống

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Giữa nhịp sống gấp gáp cuối năm, ở những làng nghề trăm tuổi của Ninh Bình, mùa Tết được đong đếm bằng nhịp búa, tiếng trống và từng sợi cói đan tay. Từ âm vang trống hội ở Đọi Tam, tiếng đục đẽo cần mẫn ở Ninh Vân, đến mùi cói phơi nắng trên vùng đất lấn biển Kim Sơn, những người thợ thủ công vẫn âm thầm giữ lửa nghề.

Người trẻ ở làng nghề làm trống Đọi Tam quyết tâm giữ nghề. 	Ảnh: Đình Minh
Người trẻ ở làng nghề làm trống Đọi Tam quyết tâm giữ nghề. Ảnh: Đình Minh

Tiếng trống nghìn năm ngân vang nhịp Tết

Những ngày cuối năm, khi sương mờ còn bao phủ trên triền đê sông Châu, người dân ở làng trống Đọi Tam (phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) đã thức giấc bằng những âm thanh rất riêng. Tiếng bào gỗ, tiếng búa gõ nhịp đều lên tang trống, và đôi khi, một hồi trống vang lên bất chợt, trầm đục mà chắc nịch, như đánh thức cả không gian làng nghề nghìn năm tuổi. Với người Đọi Tam, đó không chỉ là âm thanh của lao động, mà còn là tín hiệu cho thấy, mùa Tết đã về rất gần.

Trong căn nhà nhỏ ở cuối tổ dân phố Đọi Tam, phường Tiên Sơn, ông Phạm Văn Lý làm việc bên cái trống đang căng dở. Đôi bàn tay chai sạn sau gần nửa thế kỷ vẫn thoăn thoắt, cẩn trọng trong từng thao tác. “Làm trống không được vội” - ông Lý nói nhưng mắt vẫn dõi theo mặt trống đang dần phẳng đều. Theo nghề từ năm 15 tuổi, đến nay, ông đã có 48 năm làm trống. Chừng ấy thời gian, đủ để ông chứng kiến làng nghề đổi thay từng ngày, từ những năm tháng tất cả công đoạn đều làm thủ công, đến khi máy móc bắt đầu xuất hiện trong các xưởng nhỏ.

Ngày trước, các công đoạn như xẻ gỗ, bào tang, bịt da, căng mặt trống… đều làm bằng thủ công. Bây giờ, nhờ có máy móc hỗ trợ, nhiều khâu được rút ngắn, đỡ nhọc nhằn hơn. Nhưng theo ông Lý, máy móc chỉ giúp nhanh việc, còn tiếng trống hay hay không, vẫn phụ thuộc vào tay nghề và sự kiên nhẫn của người thợ.

Ông Trần Hữu Thắng - Chủ tịch Hội Nông dân phường Tiên Sơn cho biết, hiện toàn phường có khoảng 75 cơ sở sản xuất trống và các sản phẩm liên quan như bom rượu, bồn tắm, bồn ngâm chân... tạo việc làm thường xuyên cho hơn 500 lao động với thu nhập bình quân từ 10 - 20 triệu đồng/tháng. Theo ông Thắng, nghề làm trống ở Đọi Tam diễn ra quanh năm, nhưng sôi động nhất vẫn là dịp giáp Tết, khi nhu cầu trống lễ, trống hội tăng cao.

Những bàn tay lặng lẽ bên sợi cói, phiến đá

Ở vùng đất lấn biển Kim Sơn, khi tiết trời cuối năm se lạnh, những cánh đồng cói trải dài trong làn gió mang theo hơi mặn đặc trưng của vùng cửa biển. Không cần nắng gắt, mùi cói vẫn phảng phất rất riêng, hòa lẫn hơi đất ẩm và không khí tất bật những ngày giáp Tết. Trong căn nhà cấp 4 ở xóm An Cư 2, xã Phát Diệm, bà Phan Thị Ngoãn vẫn đều tay đan những sản phẩm cuối cùng để kịp giao cho khách trước Tết. Tiếng sợi cói cọ vào nhau khe khẽ, nhịp tay thoăn thoắt như đã thành thói quen suốt bao năm. Với bà, dù Tết thường ít nắng, công việc vẫn không dừng lại, bởi những đơn hàng cuối năm luôn cần sự chỉn chu và đúng hẹn như chính nếp nghề mà bao thế hệ người dân Kim Sơn đã gìn giữ.

Bà Ngoãn cho biết, nghề đan cói đã gắn bó với bao thế hệ nơi đây. Ngày trước, đó chỉ là nghề phụ, tranh thủ lúc nông nhàn. Nhưng theo thời gian, từ những tấm chiếu thô sơ, người Kim Sơn đã sáng tạo ra hàng trăm sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng.

“Sau khi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nghề cói Kim Sơn được chính quyền địa phương quan tâm hơn, nhiều người biết đến hơn, từ đó đơn hàng xuất đi cũng nhiều hơn” - bà Ngoãn nói.

Trong khi đó, tại làng nghề đá mỹ nghệ Ninh Vân (phường Nam Hoa Lư) cũng đang vào thời điểm bận rộn nhất trong năm. Trước cổng các xưởng đá, xe chở hàng ra vào liên tục, những khối lăng mộ đã hoàn thiện được bốc xếp khẩn trương để kịp đưa đi lắp đặt cho khách. Bên trong xưởng, tiếng máy cắt, tiếng đục, tiếng mài giáp hòa vào nhau không ngơi nghỉ, tạo nên nhịp lao động gấp gáp mà quen thuộc của làng nghề.

Trong một góc xưởng, chị Nguyễn Thị Nga - trú tổ dân phố Dưỡng Thượng, tạm ngừng tay đục, tay mài, lùi lại vài bước để ngắm khối đá đang dần thành hình. Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất này, chị theo nghề chế tác đá từ khi mới học xong cấp 2. Theo chị Nga, trong các khâu làm đá, việc phá đá là dễ nhất, còn khó nhất là vẽ hoa văn. “Vẽ rồng, phượng trên giấy đã khó, nhưng đưa những đường nét ấy lên đá, nhất là để làm lăng mộ, thì khó hơn nhiều” - chị Nga nói và cho biết, người thợ phải hình dung sẵn bố cục trong đầu, căn từng thớ đá, từng mảng khối để nét vẽ không bị cứng, không gãy.

Nghệ nhân Hoàng Hải - người đã gắn bó với Ninh Vân 15 năm cho biết, trong từng nhát đục của mình, ông đều cân nhắc rất kỹ, vì đây không chỉ là công việc, mà còn là trách nhiệm với nghề và sự tôn trọng dành cho từng khối đá. “Với đá, mỗi khi đục đẽo lên nó, phải rất cẩn thận, vì chỉ một lỗi sai nhỏ, một tảng đá lớn có thể sẽ phải bỏ đi. Vì vậy, để tạo ra được một tác phẩm chất lượng, người thợ phải rất tỉ mỉ, làm việc nghiêm cẩn” - ông Hải nói.

Theo ông Lương Xuân Nghĩa - Trưởng ban quản lý làng nghề đá mỹ nghệ Ninh Vân, hiện nay, làng có gần 100 doanh nghiệp, hơn 500 hộ và tổ hợp tác, doanh thu khoảng 600 tỷ đồng/năm, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động, đóng góp lớn cho kinh tế của địa phương.

Đình Minh