Ngựa trong tranh, người trong núi
Trong tranh Đỗ Đức, phong cảnh vùng cao không chỉ có núi, có mây, có đá. Ẩn trong lớp sương xa đá núi, luôn thấp thoáng những con ngựa lầm lũi, chậm rãi, mang theo nhịp sống miền biên viễn. Vẽ ngựa, với họa sĩ Đỗ Đức, không phải để nói về con giáp, mà để kể chuyện con người. Ở đó, ngựa không phải biểu tượng, mà là sự sống, sự sẻ chia…

Phòng vẽ nhỏ và ký ức đồng rừng
Xưởng vẽ nhỏ nhưng dày đặc tranh của họa sĩ Đỗ Đức nằm trong khu tập thể ở phố Ngọc Khánh (Hà Nội). Tranh treo trên tường, tranh dựng trong góc, tranh đang vẽ dở. Họa sĩ Đỗ Đức dẫn tôi sang một phòng nhỏ khác, treo mấy chục bức tranh khổ lớn trên giá sắt. Đó là những bức phong cảnh vùng cao, đa phần khổ lớn, với sắc đá trầm, mây mỏng, làn sương bảng lảng. Và trong nhiều bức, thấp thoáng những con ngựa miền biên viễn - khi đứng lặng, khi cúi đầu thồ hàng, khi cùng gia đình người Mông xuống chợ…
Tôi đã gặp họa sĩ Đỗ Đức nhiều lần, ở nhiều không gian và thời gian khác nhau. Ở những lần gặp ấy, tôi nhận ra ông là người hồn hậu, nói năng nhỏ nhẹ. Có lúc ông nói nhiều về những chuyến đi, có lúc chỉ lặng lẽ pha trà, để ánh mắt trôi theo những bức tranh trên tường. Ở ông không có vẻ gì của một họa sĩ thích phô bày thành tựu. Mọi thứ đều vừa đủ, như cách ông vẽ.
Đỗ Đức sinh năm 1945, thuộc thế hệ họa sĩ trưởng thành trong giai đoạn hội họa hiện đại Việt Nam còn in đậm dấu ấn hiện thực. Ông học mỹ thuật bài bản, tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1980, từng làm báo ở Thái Nguyên rồi công tác nhiều năm tại Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc. Nhưng nhìn theo cách Đỗ Đức đi và vẽ, người ta có cảm giác những mốc ấy chỉ là phần nổi của một đời sống nghệ thuật đã định hình từ rất sớm.
Đến phòng vẽ của ông, tôi thường thích ngồi yên, ngắm nhìn Đỗ Đức làm việc. Ông vẽ chậm, vẽ kỹ. Những dải núi trầm bổng trong sương mù, những triền núi cao vợi, khí núi tỏa ra mờ mịt trong sắc rừng xanh thẳm; rồi những sườn núi xanh sẫm, trầm sâu dưới ánh chiều hắt nắng… Rồi cây, rồi hoa; rồi người, rồi ngựa trên triền núi đá. Tất cả cứ từ từ được Đỗ Đức đặt để, hóa giải, và ký tên vào bức tranh đã hoàn thành. Nhiều bức tranh, ông không dùng cọ mà dùng bay nhỏ, gạt, miết từng lớp màu. Nhưng những mảng núi, mảng đá; những dáng người, dáng ngựa hiện ra vẫn đủ sự mềm mại, chất chứa dấu vết thời gian. Cách vẽ ấy khiến tranh ông có độ dày, có lớp lang, nhưng không rơi vào trường phái phô diễn kỹ thuật.
Họa sĩ Đỗ Đức cho biết, mối duyên với vùng cao đến rất sớm. Đó là năm 1973 lần đầu lên Hà Giang (cũ), ông đi mấy huyện vùng cao Đồng Văn, Quản Bạ. Chuyến đi kéo dài 23 ngày, và sau đó, cả vùng biên viễn ấy theo ông suốt cuộc đời làm nghệ thuật. Ông quả quyết: “Tôi đã đến với miền biên cương phía Bắc như một nhân duyên thế đấy!”
Từ chuyến đi ấy, ông không còn nhìn núi như phong cảnh, mà nhìn như nơi con người bám trụ, sinh tồn và để lại dấu vết của mình. Vẽ vùng cao, với Đỗ Đức, vì thế không phải lựa chọn đề tài, mà là một cách được sống, được trở về.
Nhiều năm liền, họa sĩ Đỗ Đức còn dành tâm sức để nghiên cứu và vẽ sắc phục của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Ông bảo rằng mình bị cuốn hút bởi vẻ đẹp “đẹp lạ thường” của những bộ trang phục Pa Dí, Xá Phó, Lô Lô, Khơ Mú - những sắc phục không giản dị như Tày, Nùng, không hào hoa như Thái, cũng không quen thuộc như Mông, Dao. Với ông, mỗi bộ trang phục là một hồ sơ văn hóa sống động. Những bức vẽ ấy - chủ yếu vẽ bằng chất liệu màu nước - gần đây được in cuốn sách “Trang phục và nét văn hóa các dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam” (NXB Mỹ thuật), như một công trình nghiên cứu để lưu giữ vẻ đẹp văn hóa đang dần phai nhạt.
Ông bày tỏ về quan niệm sáng tác của mình: “Tôi yêu hiện thực và vẽ hiện thực. Tôi chỉ vẽ những gì mình yêu thích và thật hiểu về nó. Khi vẽ tôi luôn hướng về con người. Trong vẽ hiện thực, khi đã vượt qua sao chép, thì nó lại mang một giá trị khác hẳn. Thực đấy mà không phải thực”. Có lẽ vì thế, tranh Đỗ Đức không ép người xem phải hiểu, mà mở ra những khoảng trống đủ rộng để cảm xúc tự tìm đường.

Vẽ ngựa để nói chuyện con người
Họa sĩ Đỗ Đức vẽ ngựa đã hơn 30 năm, nhưng hầu như không bức tranh nào giống bức nào. Tùy từng thời điểm và điều kiện, có khi ông vẽ sơn mài, sơn dầu, cũng có khi vẽ màu nước hoặc phấn màu… Ngựa trong tranh ông đa phần không phải nhân vật trung tâm theo nghĩa chiếm lĩnh bố cục, càng không phải con giáp được khai thác bằng biểu tượng. Trong nhiều bức tranh lớn, ngựa chỉ là những chấm rất nhỏ, như một nét bút “thêm vào”. Nhưng chính những nhát bút ấy lại có tính quyết định, khiến bức tranh trở nên sống động. Để vẽ ngựa vùng cao cho có hồn, họa sĩ Đỗ Đức đã phải dành rất nhiều năm tháng để đi, nhìn, và ký họa ngựa vùng cao. Khi đã thành một phần của tâm hồn, ông mới có thể dễ dàng “thêm vào” những bức phong cảnh khổ lớn.
Họa sĩ Đỗ Đức chia sẻ: Tôi thích ngựa và cũng hay vẽ ngựa, bởi ngựa có thể hình rất đẹp, phong thái đĩnh đạc. Ngựa gắn bó với người miền núi như một thành viên trong gia đình. Đi rừng đi núi mới biết thế nào là đường ngựa đi, mới hiểu thế nào là “đường xa mới biết ngựa hay”. Đó là những đoạn đường chênh vênh đèo dốc, người đi còn khó. Khi ấy ngựa là trợ thủ đắc lực. Lưng thồ hàng nặng mà nhẫn nại, âm thầm, bền bỉ, lựa từng bước đi. Ở bên con ngựa, người ta thấy ấm áp như bên người bạn thân quý, đáng tin cậy.
Ngựa xuất hiện rất thường xuyên trong tranh sơn dầu của Đỗ Đức, với rất nhiều “câu chuyện”. Trò chuyện với tôi, ông bảo: “Tôi vẽ ngựa cũng là để nói chuyện con người. Vì thế, ngựa trong tranh tôi là hình tượng con người”. Ngắm tranh ông, ta thấy ngựa chia sẻ cảm xúc sống với người trong “Nhớ Khau Vai”, “Chờ bạn”. Ngựa bền bỉ trong “Dốc Phiềng Sa”… Và thấy một Tây Bắc hùng vĩ trong tranh “Đàn ngựa qua cầu”, “Xuống hội”, “Một mình”… và điển hình là “Vạn lý độc hành”.
Các bức tranh “Trong núi”, “Chiều bên núi”, “Một nẻo biên thùy II”, “Nắng sớm trên đỉnh Pu Sam Sao”, “Cuộc sống cao nguyên”, “Cổ tích miền rừng”…, như một dấu hiệu nhận ra sự sống đang vận động giữa mênh mang đá núi và sương xa. Có khi là dáng ngựa lọt thỏm giữa sắc xanh bàng bạc của sơn khê (Mùa Xuân). Có khi ngựa đi cùng người, thành những bạn đồng hành lặng lẽ: người gùi măng, sắn nặng trĩu, ngựa thồ củi lún lưng. Cả hai cùng cúi đầu, bước đi trong chiều sâu hun hút của điệp trùng đá núi, như trong “Chiều bên núi”, “Đường vào Khau Vai”.

Ở những bức như “Chợ phiên”, hình ảnh con ngựa mang dáng vẻ phiền não đứng giữa đám đông dân bản cười nói tạo nên một đối trọng cảm xúc rất mạnh. Ngựa không cười, không nói, chỉ đứng đó, như gom hết mệt nhọc của phiên chợ vào thân mình. Chính sự im lặng ấy khiến người xem phải dừng lại, nhìn lâu hơn, và nghĩ nhiều hơn - không chỉ về ngựa, mà về con người.
Họa sĩ Đỗ Đức nói rằng ông thích vẽ ngựa bởi “ngựa giống người miền núi, làm nhiều, nói ít”. Có lẽ cũng vì thế, trong tranh ông, ngựa hiếm khi phi. Chúng đi. Đi bền bỉ. Đi nhẫn nại. Đi cùng người, và nhiều khi đi thay người. Ngựa trong tranh Đỗ Đức, nhìn kỹ, không chỉ gánh hàng mà còn gánh thời gian.

Những năm gần đây, dù tuổi đã cao, Đỗ Đức vẫn tiếp tục những chuyến rong ruổi vùng cao. Ông đi để điền dã, để trao quà, để dự khánh thành những điểm trường nhỏ nơi biên viễn. Những chuyến đi ấy lại tiếp thêm cho ông chất liệu tươi mới về đời sống miền núi - những con người, những con ngựa lặng lẽ trong sương xa đá xám. Trở về từ mỗi chuyến đi, ông lại lặng lẽ vẽ, như một cách trả ơn non nước biên thùy.
Bước qua tuổi 80, sức khỏe của họa sĩ Đỗ Đức không còn như trước. Bước đi đã chậm, có khi phải vào viện để chăm sóc y tế, nhưng khi khỏe lại ông vẫn cố gắng đến phòng vẽ. Trong phòng, nhiều bức tranh còn dang dở, có những tấm toan lớn đã phủ lớp nền. Ông bảo, những bức lớn ấy phải để đó, chờ khi khỏe hơn mới vẽ tiếp được.

Có một điều tôi luôn thấy rõ mỗi lần gặp họa sĩ Đỗ Đức: ông không chỉ là người vẽ phong cảnh, mà là người mang trong mình ký ức của núi rừng. Xem tranh ông, có lúc tôi nghĩ: nếu bỏ đi những con ngựa bé nhỏ ấy, núi vẫn còn đó, sương vẫn còn đó, nhưng đời sống thiếu vắng và cô liêu hơn. Những bức tranh gần đây của Đỗ Đức, người ta thấy ngựa ngày càng trầm lắng. Dáng thấp hơn, bước chậm hơn, như thể mang theo cả nhịp thở của người họa sĩ đã đi qua phần lớn đời mình. Đó không còn là cái nhìn của một người say mê khám phá, mà là cái nhìn của một người đã hiểu, đã chấp nhận, và không còn cần phải chứng minh điều gì nữa.

