‘Lốc cốc’ vó ngựa trời Nam
Giữa không khí rộn ràng của chợ Tết, giữa mùi khói bếp, mùi bánh trái và sắc mai vàng phương Nam, có một âm thanh rất khẽ nhưng đủ sức đánh thức ký ức của bao thế hệ: tiếng vó ngựa lốc cốc trên con đường cũ.

Tiếng vó ngựa trong mùa gió chướng
Ở miền Tây, khác với vùng miền khác, xuân không báo hiệu bằng cái rét, mà bằng những cơn gió chướng, bằng con nước lớn cuối năm, bằng nhịp chợ Tết nhộn nhịp rồi lắng dần khi giao thừa chạm ngõ. Trong ký ức của nhiều người lớn tuổi, mùa xuân xưa còn gắn với một hình ảnh rất đời: xe ngựa chở hàng Tết.
Đó là những chuyến xe chở nếp, chở đậu xanh, chở đường thốt nốt, mứt bánh từ gò cao về chợ huyện. Tiếng vó ngựa lốc cốc vang lên giữa sớm mai, khi sương còn đọng trên bờ ruộng, hay những buổi chiều tà báo hiệu một mùa Tết nữa sắp đến.
Không ồn ào, không gấp gáp, tiếng vó ngựa chậm rãi, đều đều, như nhịp thở của miền quê. Tiếng lốc cốc vào ký ức Nam bộ một cách tự nhiên, bền bỉ, như cách con người nơi đây đi qua năm tháng.
Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, khi nhìn lại vó ngựa trời Nam, không chỉ hoài niệm về một phương tiện cũ, mà còn suy ngẫm về nhịp sống đã làm nên cốt cách miền Tây: chậm rãi, hiền hòa và biết đủ.
Có lần lục lọi tìm tòi thông tin trong các thư tịch cổ về Nam bộ, đặc biệt là “Gia Định thành thông chí” của tác giả Trịnh Hoài Đức, tôi đã đọc được những ghi chép về việc người dân dùng trâu, ngựa để vận chuyển hàng hóa trên các lộ trình ven kênh rạch. Điều đó cho thấy, ngay từ đầu thế kỷ XIX, ngựa đã hiện diện trong hệ thống giao thông – giao thương của vùng đất này.
Ở các địa bàn đất cao như Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang), Gò Công (Tiền Giang xưa nay là Vĩnh Long), Mộc Hóa (Long An xưa nay là Tây Ninh), ngựa thồ là phương tiện phù hợp để chở lúa, muối, củi, thổ sản từ gò cao về bến nước. Từ đó, hàng hóa tiếp tục theo ghe xuồng tỏa đi khắp lục tỉnh.
Xã Vĩnh Trung, thị xã Tịnh Biên cũ, nay là xã An Cư (tỉnh An Giang) xưa được biết đến là thủ phủ những chú ngựa thồ dưới chân dãy Thất Sơn. Trở lại nơi này những ngày cuối năm, gặp ông Chau Da (60 tuổi), ngụ ấp Vinh Lập, xã An Cư, tỉnh An Giang chia sẻ, “Trước đây cả xã Vĩnh Trung cũ có hơn 20 con ngựa thồ, tiếng bước chân ngựa rộn ràng khắp xóm, nay chỉ còn lại vài con,…”. Còn anh Nonh Oanh No, (42 tuổi), ngụ xã An Cư cũng cho biết, không như trước, xe ngựa giờ khách thuê chở hàng cũng ít, lâu lâu mới có một lượt, hôm nào có khách cũng kiếm được từ 150-300.000 đồng/người, nào có khách thì chạy, còn không thì đi kiếm việc khác làm...
Với địa hình tự nhiên nhiều sông, rạch, mô hình “ngựa – ghe song hành” cho thấy người dân Nam bộ thích ứng rất tốt với mọi loại địa hình và điều kiện tự nhiên. Ngựa đi trên bờ, ghe đi dưới nước, bổ trợ cho nhau trong một không gian sông – ruộng đan xen.
Không chỉ gắn với các họat động mưu sinh, xe ngựa còn đi vào đời sống tinh thần của rất nhiều thế hệ. Ở An Giang, trong lễ Sen Dol-ta của đồng bào Khmer (giống lễ Vu lan báo hiếu của người Kinh – PV), xe ngựa từng dùng để chở các lễ vật về chùa. Vào dịp Tết Nguyên đán, xe ngựa chở bánh trái, nhang đèn, đưa người đi chúc Tết họ hàng xa, hay các đám cưới đầu xuân các gia đình thường thuê xe ngựa để đưa, rước dâu vừa tạo được nét văn hóa truyền thống của ông cha xưa, vừa tạo nét độc lạ khiến mọi người phải trầm trồ.
Tờ báo “Lục Tỉnh Tân Văn” thập niên 1920 cũng từng nhiều lần ghi nhận việc xe ngựa xuất hiện trong cưới hỏi như một nét sinh hoạt phổ biến của người Nam Kỳ.
Còn trong văn chương truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam hình ảnh xe ngựa lăn bánh chậm rãi giữa buổi chiều cuối năm, hay đứng chờ bên chợ Tết, là ký hiệu của một miền quê chậm rãi, hiền hòa, nặng nghĩa.

Từ phương tiện mưu sinh đến sản phẩm du lịch độc đáo
Trải qua một thời gian rất dài, đến giữa thế kỷ XX, khi hệ thống giao thông, cầu đường được đầu tư, phương tiện di chuyển, vận chuyển được hiện đại hóa, xe máy, xe hơi dần phổ biến, nghề xe ngựa cũng lùi vào dĩ vãng nhường chỗ cho phương tiện khác. Nhiều con đường đất được bê tông hóa, nhiều bến chợ không còn chỗ cho xe ngựa đậu. Nhưng như một điều kỳ lạ một số tỉnh của miền Tây như, An Giang, Bến Tre (nay là Đồng Tháp), Tiền Giang (nay là Vĩnh Long) người dân vẫn giữ xe ngựa đến nay, không chỉ vì thương nghề cũ mà vì họ hiểu đó là một báu vật văn hóa.
Ở Đồng Tháp, Vĩnh Long đường làng nhỏ, rợp bóng dừa, nhất là các cồn như Cồn Phụng, Cồn Thới Sơn, xe ngựa phù hợp với nhịp sống miệt vườn, đặc biệt vào những ngày xuân du khách về đông. Du khách chọn xe ngựa không vì nhanh, mà vì muốn cảm nhận một miền Tây rất khác – chậm hơn, yên hơn.
Ông Hồ Văn Tánh, một trong những chủ xe ngựa đời thứ ba ở thị trấn Ba Chúc, cho biết: “Tết khách đông lắm. Họ đi xe ngựa, nghe tiếng vó, nói là thấy Tết xưa trở lại. Khách Sài Gòn, khách Tây họ mê xe ngựa lắm. Họ nói ngồi xe ngựa mới thấy An Giang mộc mạc thiệt sự. Tiếng lốc cốc vó ngựa làm họ nhớ lại mấy chuyện xưa.”
Về Cồn Thới Sơn (ấp Thới Thạnh, phường Thới Sơn, Đồng Tháp) hỏi ông 3 Chiều (Bùi Mạnh Chiều) chủ xe ngựa ai cũng biết, hơn 10 năm qua từ một vài xe ngựa, đến nay số xe ngựa đã hơn chục chiếc, giai đoạn cao điểm trong năm có lúc ông điều khoảng 15 chiếc xe ngựa mới đủ để chở khách tham quan cồn. Xe ngựa ở đây được làm khung sườn bằng sắt thép, có mui vải che mưa nắng và hai băng ghế ở hai bên cho khách ngồi thoải mái.
Theo chia sẻ của ông Chiều, người dân chỉ việc sắm xe ngựa và đăng ký hoạt động với công ty du lịch, công ty sẽ đưa khách tới. Thường hai ngày cuối tuần đông khách, mỗi xe ngựa chở được hơn 10 chuyến. Cái nghề đánh xe ngựa này kể ra cũng khỏe, có khách tham quan là có thu nhập ổn định. Du khách đến đây đều rất thích một lần trải nghiệm đi xe ngựa ngắm vẻ đẹp bình yên của vùng sông nước cù lao.
Cũng theo ông Chiều, 2 lý do mà du khách về với Cồn Thới Sơn chọn đi xe ngựa đó là họ thích được trải nghiệm cảm giác được ngồi phương tiện cổ xưa mà ông bà đã sử dụng và dễ di chuyển đến các điểm tham quan, dễ quan sát ngắm nhìn xung quanh.


Giữ xe ngựa, giữ một phần tâm hồn người miền Tây
Bảo tồn xe ngựa không phải để níu kéo quá khứ, mà để giữ một di sản sống, nơi con người được chạm vào ký ức, được sống chậm lại giữa đời sống hiện đại.
Nhà nghiên cứu văn hóa, soạn giả Nhâm Hùng cho biết: Giữ xe ngựa không phải giữ cho bằng được một phương tiện đã lùi vào quá khứ. Giữ xe ngựa là giữ cái tinh thần, cái chất bình dị của người miền Tây. Cần tiếp tục lưu giữ và phát triển xe ngựa như một phương tiện xanh và bảo vệ môi trường. Để thu hút du khách tham quan trải nghiệm xe ngựa cần trang trí, làm đẹp xe hơn và mang nét đặc trưng riêng của đồng bằng sông nước để thu hút và hấp dẫn du khách.
Cũng đã có nhiều ý kiến cho rằng để giữ nghề cần chuẩn hóa tuyến xe ngựa du lịch giống như mô hình xe ngựa ở Hội An hay xe song mã ở Huế trước đây. Hỗ trợ thức ăn, chăm sóc thú y cho các hộ nuôi ngựa. Đào tạo nghệ nhân, người đánh xe như một nghề truyền thống. Xây dựng sản phẩm diễn giải văn hóa: kể chuyện lịch sử giao thương, phục dựng lễ hội có xe ngựa.
Những giải pháp ấy không chỉ giúp bảo tồn mà còn tạo sinh kế bền vững cho bà con. Xe ngựa, không chỉ để xem, mà để cảm. Xe ngựa mang đến một thứ mà các phương tiện hiện đại không thể có: cảm giác chạm vào ký ức.
Giữa sắc mai vàng, giữa mùi bánh Tết, giữa nhịp sống hối hả của hôm nay, tiếng vó ngựa lốc cốc vẫn văng vẳng đâu đó ở An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long. Âm thanh ấy không ồn ào, nhưng đủ để nhắc nhớ một miền Tây từng đi qua một thời lam lũ mà nghĩa tình. Vó ngựa trời Nam, trong hơi thở mùa Xuân, chính là ký ức còn sống xót lại của miền đất này.