


Nghị quyết 80 nêu quan điểm chỉ đạo: Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nghị quyết coi văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số.
Một điểm mới nổi bật đó là việc Nghị quyết 80 đã đề ra các chỉ tiêu định lượng cụ thể, như bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn, phát triển công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, phấn đấu 9% vào năm 2045; Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa vào năm 2045…

Những mục tiêu được định lượng cụ thể nói trên cho thấy, văn hóa có giá trị vật chất, có thể và cần được tổ chức như một ngành kinh tế sáng tạo dựa trên tri thức, công nghệ và bản sắc.
Vừa rồi, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 79-NQ/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW tổ chức trong tháng 2, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết đã phân tích: Các văn kiện trước về văn hóa thường xác định phương hướng, mục tiêu khái quát, mục tiêu cụ thể, song chủ yếu dừng lại ở định hướng chung. Nghị quyết 80 đồng thời vừa khẳng định mục tiêu chung cho từng lĩnh vực, vừa chỉ ra một số chỉ tiêu cụ thể cần phải đạt tới, có nghĩa là, gắn yêu cầu cao về chất lượng phát triển với định lượng cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa. Đó là tư duy khoa học - thực tiễn, tránh những yêu cầu chung chung không đánh giá được kết quả.

Đơn cử, mục tiêu chung của ngành công nghiệp văn hóa là “đẩy mạnh phát triển…, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo”, gắn với mục tiêu đó là chỉ tiêu “ngành này đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và phấn đấu 9% vào năm 2045, hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa”. Hoặc, trong quan điểm chỉ đạo khẳng định “đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển đất nước, cho tương lai dân tộc” thì trong chỉ tiêu xác định rõ “bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn” (các nghị quyết trước không trực tiếp xác định chỉ tiêu mà giao cho Nhà nước. Những năm qua, Nhà nước quyết định 1,8%, nhưng trên thực tế hầu như chưa đạt tới, năm cao mới đạt trên 1,7%). Nghị quyết 80 khẳng định “tối thiểu 2%” và còn định hướng tăng dần theo yêu cầu thực tiễn” là một đột phá lớn, chưa từng có đối với đầu tư cho văn hóa.

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội nhận định, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành tháng 1 năm 2026 như là một sự tạo đà, tạo xung lực phát triển mới cho văn hóa đất nước. Từ những Nghị quyết trước đó về văn hóa, vấn đề con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của văn hóa đã được đặt ra, nhưng chỉ trong Nghị quyết 80 vấn đề xây dựng nhân cách văn hóa con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại mới được đặt ra cụ thể, thiết thực, khả thi gần với bản thể văn hóa nhất. Cùng với đó, Nghị quyết 80 còn tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn trong thể chế, cơ chế tạo sự đồng bộ giữa pháp luật chung với các luật chuyên ngành, với các cơ chế liên quan, giữa Nhà nước và tư nhân, giữa tổ chức và cá nhân để mở đường cho văn hóa phát triển.
Nghị quyết 80 bao quát toàn bộ các lĩnh vực, loại hình cụ thể của văn hóa, đồng thời xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho từng lĩnh vực. Với những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa- nghệ thuật, Nghị quyết 80 được kỳ vọng mở ra một không gian phát triển mới cho văn hóa Việt Nam.

NSND Trịnh Thúy Mùi, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch hội nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam cho rằng đây là một “cú hích” quan trọng, mở ra nhiều cơ hội mới cho văn học, nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ phát huy năng lực sáng tạo, cống hiến nhiều hơn cho đời sống tinh thần của xã hội.
Theo NSND Trịnh Thúy Mùi, trước tầm vóc và ý nghĩa của Nghị quyết 80, không chỉ giới văn nghệ sĩ mà đông đảo người dân - những chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa - đều kỳ vọng vào một bước đột phá thực chất, đặc biệt là sự chuyển biến từ tư duy “hỗ trợ” sang tư duy “đầu tư” cho văn hóa. Đây là sự thay đổi rất căn bản, bởi đầu tư cho văn hóa đồng nghĩa với việc nhìn thẳng vào những hạn chế, những khoảng trống còn tồn tại, để có chiến lược bù đắp, nâng tầm văn hóa ngang hàng với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Ông Phùng Đắc Nhẫn - Phó Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam kỳ vọng, quá trình triển khai Nghị quyết 80 sẽ tạo ra ba chuyển biến quan trọng đối với sự phát triển bền vững của văn hoá Việt Nam. Thứ nhất, văn hoá được đầu tư và quan tâm đúng mức, trở thành một trụ cột trong chiến lược phát triển quốc gia, chứ không chỉ là lĩnh vực bổ trợ cho kinh tế. Thứ hai, công nghiệp văn hoá có bước phát triển thực chất, hình thành các sản phẩm văn hoá chất lượng cao trong các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hoá hay nội dung số. Điều này vừa đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, vừa quảng bá hình ảnh và bản sắc Việt Nam ra thế giới. Thứ ba, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá được thúc đẩy mạnh mẽ, giúp bảo tồn di sản tốt hơn, mở rộng khả năng tiếp cận văn hoá cho người dân và lan tỏa giá trị văn hoá Việt trong không gian số.
Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam nêu quan điểm: UNESCO hoan nghênh tầm nhìn thể hiện trong Nghị quyết số 80-NQ/TW. Việc xác định văn hóa là một nguồn lực cốt lõi và trụ cột của phát triển cho thấy Việt Nam đã đặt con người, các giá trị và bản sắc văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển dài hạn của quốc gia. Từ góc độ của UNESCO, Nghị quyết đã đưa ra một lộ trình chính sách cho tiến trình đổi mới mang tính cơ cấu trong lĩnh vực văn hóa, hướng tới huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy kinh tế sáng tạo và bảo vệ sự đa dạng văn hóa. Đây là sự tiếp nối hợp lý của truyền thống lâu đời coi trọng văn hóa của Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng để quốc gia ứng phó hiệu quả với những thách thức của kỷ nguyên số và bối cảnh toàn cầu nhiều biến động.

Tại tọa đàm khoa học “Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam: Từ mục tiêu chiến lược đến giải pháp thực tiễn” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vừa tổ chức cuối tuần qua, GS.TS Nguyễn Văn Kim - Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hoá Quốc gia phân tích: Nghị quyết 80-NQ/TW cũng chỉ rõ những điểm nghẽn, hạn chế: Việc thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước còn chậm, chưa đồng bộ, có mặt thiếu đột phá. Môi trường văn hóa chưa thật sự lành mạnh, đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp, mất bản sắc. Đầu tư cho văn hóa còn thấp và dàn trải; nguồn lực chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước…
Do đó, để sớm đưa mục tiêu của Nghị quyết 80 vào cuộc sống, ông đề xuất cần khơi thông điểm nghẽn thể chế, chuyển hóa văn hóa từ “mục tiêu” thành “hệ điều tiết phát triển”. Trong đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp văn hóa tiếp cận vốn và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất văn hóa số, số hóa di sản văn hóa; phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, có chính sách đầu tư các tập đoàn công nghệ lớn vào hạ tầng số và đề xuất, thực hiện các giải pháp ứng dụng công nghệ cao cho văn hóa; thí điểm các mô hình kinh doanh, phát triển văn hóa mới dựa trên nền tảng số.

Cùng đó, có chính sách đãi ngộ xứng đáng với các nghệ nhân, nghệ sĩ, các trí thức, nhà khoa học tham gia các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, sáng tạo văn hóa; nghiên cứu, lựa chọn, tập trung đầu tư phát triển một số lĩnh vực công nghiệp văn hóa là đặc trưng, thế mạnh của Việt Nam và của từng vùng miền. Định hình môi trường văn hóa trong không gian phát triển của từng vùng, địa phương; phát huy vai trò của không gian văn hóa đô thị, nông thôn, vùng biển và miền núi; khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hóa, đặc biệt là ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Còn ở một góc nhìn khác, GS Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam lại trăn trở về việc bảo vệ không gian sinh tồn hài hòa. Việc phát triển kinh tế, đô thị hóa đang làm thu hẹp không gian sống vật chất và phá vỡ không gian tâm linh, ký ức của người dân. Ông khẳng định cần sự hiểu biết và đánh giá tác động văn hóa sâu sắc trước khi tiến hành bất cứ dự án kinh tế, xã hội nào để tránh hệ lụy cho người dân, hướng tới sự hài hòa, lấy hạnh phúc của người dân và sự bền vững của không gian sống làm thước đo thay vì chỉ chạy theo các chỉ số tăng trưởng thuần túy.

Trước đó, khi đánh giá về tiềm năng của Việt Nam trong việc hiện thực hóa những mục tiêu phát triển văn hóa được định lượng trong Nghị quyết 80, ông Jonathan Wallace Baker chia sẻ, từ kinh nghiệm quốc tế của UNESCO, việc theo đuổi những mục tiêu như vậy đòi hỏi cam kết chính trị bền bỉ và tầm nhìn dài hạn để có thể được triển khai một cách thực chất.

Thực hiện: Nguyễn
Dũng - Hương Lê - Phạm Sỹ
Trình bày: Quang Hùng