|
Hát quan họ dưới thuyền
Ngày cuối năm, trời se lạnh, mưa bụi bay bay, hương hoa xoan như vương vấn đâu đây. Gạt cả buổi chiều bộn bề công việc cuối năm, Trần Chính trút bao tâm sự nén dồn bấy lâu về niềm đam mê quan họ của ông với tôi. Trong suốt cuộc chuyện, Trần Chính như nhập đồng...
Quan họ là loại hình dân ca gắn bó chặt chẽ và mật thiết với tâm linh. Người xưa hát quan họ để cầu đảo, kêu cầu thánh thần cho được mùa, cho quốc thái dân an... Không biết từ bao giờ ở làng Viêm Xá đã có đền thờ Vua bà hát quan họ. Tương truyền Vua bà là công chúa con gái của Vua Hùng thứ 18. Trong một lần dạo chơi, công chúa bị một cơn cuồng phong cuốn đi và rơi xuống làng Viêm Xá. Công chúa dạy dân cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm. Nhưng nhất là dạy dân hát. Điệu hát ấy sau là quan họ. Một hôm vua Thủy Tề du ngoạn tới Viêm Xá thấy có một người con gái vừa cấy lúa vừa hát. Giọng hát của cô gái khiến vua Thủy Tề mê mẩn. Vua đánh bạo cầu hôn hứa sẽ phong làm Hoàng hậu. Người con gái kia đồng ý. Và cô gái đó chính là công chúa. Dân làng tưởng nhớ công chúa đã lập đền thờ công chúa và gọi là đền thờ Vua bà...
Phải chăng vì làng quan họ có đền thờ Vua bà, sự tích lại đưa ra thuyết: Quan họ xuất hiện từ thời Hùng Vương nên anh mới dùng từ: “Nền văn hóa quan họ”?. Tôi hỏi. Trần Chính cả cười: - Thật 100%. Nền văn hóa quan họ đâu chỉ căn cứ ở đền Vua bà, căn cứ ở dân ca quan họ mà còn từ những cách ứng xử trong cuộc sống thường ngày, ngày hội như: cách têm trầu, mời trầu, mời rượu, mời cơm.
Ông kể, nghệ nhân Nguyễn Thị Thềm (con nghệ nhân quan họ Nguyễn Thị Các) chuyên đi hát với chị ruột là nghệ nhân Nguyễn Thị Sang. Chồng cô Thềm là một cán bộ công an. Vậy mà cô Thềm đi hát thâu đêm suốt sáng hết ngả vai anh này đến ngả vai anh kia cứ “ới anh là anh hai ơi...”. Nhiều buổi anh chồng đi cùng nhưng không hề ghen mà lại cứ ngồi gật gù thưởng thức. Chỉ có thể giải thích rằng vì anh chồng “yêu” quan họ nên mới “yêu vợ đến vậy”. Lại nữa, hàng năm cứ vào ngày hội Vua bà thì nhà cô Thềm đầy khách. Năm hội vừa rồi, vợ chồng nhà cô Thềm làm hết 34 mâm cỗ (mà mâm nào cũng cỡ ngót nghét triệu bạc). Mời khách, vợ chồng cô Thềm như “hát” với người quan họ: “mời các bác xơi với người quan họ chúng em bữa cơm nhạt”. Tôi biết nhiều vị khách không hề có sự quen biết nào với gia đình nhà cô Thềm. Thế nhưng gia đình cô cũng như nhiều gia đình nghệ nhân khác vẫn rất vui. Họ yêu quan họ như một tín đồ...
Ths. Trần Chính
Như chưa đủ thuyết phục rằng có một nền văn hóa quan họ, nhắp một hớp trà nhỏ, ông như đắm chìm trong miền ký ức, kể: Nhiều làng quê Bắc Bộ thời phong kiến có tục trên 50 tuổi là có thể được “ngự” ở một góc chiếu ở chốn đình chung. Thế nhưng nếu không có cái thủ lợn và mấy lít rượu bày mâm khấn thần hoàng làng kèm theo mấy chục mâm cỗ khao làng thì có khi đến 60 – 70 tuổi vẫn chắp tay đứng hầu bên ngoài. Vậy mà, đối với làng quan họ thì lại khác. Khi vào hội thì ông lý trưởng phải tìm cách “giấu” cái chức của mình đi. Anh tôi (Trần Linh Quý - anh cả của Trần Chính – đã mất) kể: Anh từng chứng kiến ông lý trưởng giới thiệu: “Trước khi là lý trưởng, tôi chính là nghệ nhân quan họ”. Ông lý trưởng đã phải hạ cái chức của mình xuống hàng thứ yếu và coi cái danh nghệ nhân quan họ mới thực là sang trọng. Vai vế ở làng bắt đầu từ vai vế quan họ chứ không phải từ chức sắc. Cách xưng hô cũng đậm chất văn hóa khiêm nhường, e lệ: “Em xin thay mặt người quan họ chúng em thưa với các anh hai, chị hai rằng...” hay “quan họ chúng em mời các anh hai, chị hai xơi chén rượu nhạt”. Mềm mại mà “sôi, nóng”. Nói rượu nhạt nhưng cứ thử uống chén rượu ấy mà xem. Tôi đồ rằng nó không dưới 45 độ đâu. Người quan họ biết thế nhưng họ vẫn cứ nói là rượu nhạt. Vì hát quan họ nên người quan họ mang đức tính nhún nhường, rất nhún nhường. Người ở vùng văn hóa khác có khi lại nghĩ họ yếm thế. Đến bây giờ người quan họ nhiều vùng vẫn giữ được đức tính cũ. Khi đi hát hội, người quan họ cứ đưa đẩy nhường các làng quan họ khác hát trước. Ấy vậy mà, tôi từng chứng kiến, người quan họ làng Viêm Xá trước khi đi hát bảo nhau: “làng mình là làng quan họ cổ đấy nhé. Cả 49 làng quan họ đều nhìn vào làng mình đấy. Đã đem chuông đi đấm xứ người không được giải thì đừng về nhé”.
Thế sao gọi người quan họ nhún nhường? Tôi hỏi ông Chính.
Đó là sự hãnh diện. Sự kiêu hãnh được thể hiện bằng sự khiêm tốn. Thế nên văn hóa quan họ rất đằm, rất sâu.
Nền văn hóa quan họ còn thể hiện ở trang phục. Mặt ông rạng rỡ hẳn lên. Đấy ông xem. Con gái quan họ áo mớ ba mớ bảy, đàn ông thì áo the khăn xếp cũng mấy lượt. Nói như ngôn ngữ hình ảnh là “ai cũng kín cổng cao tường”. Ăn mặc kín đáo thế mà nhiều người về hội quan họ cứ mê mẩn, tơ tưởng nhiều ngày chưa dễ đã dứt được. Họ mê giọng hát, lời ca; mê dáng thướt tha; mê “cái tỉnh tình tinh” đưa tình.
“Báu vật sống” – đó là một thuật ngữ rất hay mà Unseco dùng để chỉ người nghệ nhân. Anh cũng đã viết cuốn “Nghệ nhân quan họ làng Viêm Xá” – cuốn sách đã được Giải thưởng Hội văn nghệ dân gian 1999. Nay quan họ đã được Unesco vinh danh. Anh có đề xuất gì về cách tôn vinh nghệ nhân quan họ?.
Ông bùi ngùi: Tết năm ấy, tôi định về quê gặp ông cụ Nghị, người cung cung cấp cho tôi sắc phong triều Nguyễn về đền Vua bà, để hỏi thêm vài chuyện về quan họ. Thế nhưng vì “say” một vài cuộc rượu mà tôi không gặp được. Hơn tháng sau tôi trở về thì đau đớn đến sững sờ... cụ đã mất (thọ 102 tuổi). Tôi thực sự hẫng hụt...
Tôi nghĩ, có một cách tôn vinh nghệ nhân mà không tốn kém nhưng lại hiệu quả. Đó là Bắc Ninh, Bắc Giang - nơi quan họ đất Kinh bắc nên đặt tên đường cho các nghệ nhân quan họ nổi tiếng. Ngoài ra, việc tạo điều kiện cho các “báu vật sống” truyền nghề cho thế hệ trẻ là điều rất khẩn thiết. Những “báu vật sống” này có thể ra đi bất cứ lúc nào. Một di tích xuống cấp có thể đầu tư để sửa chữa nhưng một “báu vật sống” đột ngột ra đi là ta sẽ chẳng thể còn lại gì...
Trở lại câu chuyện về nền văn hóa quan họ, Trần Chính cho biết: Anh đang tìm hiểu và viết tiếp về 49 làng quan họ cổ. Tư liệu còn lại rất ít ỏi và rất khó vượt qua. Hơn ba tháng nay cứ cuối tuần là anh đi về các làng quan họ. Anh muốn dựng lại diện mạo của 49 làng quan họ ấy trên các khía cạnh: Địa lý, văn hóa, phong tục tập quán, cách ứng xử, đời sống kinh tế... tức là cần đến một nghiên cứu liên ngành. Và mỗi một làng quan họ là một tiểu dự án...
Từ Khôi |